Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    P1010793.flv Xu_ly_mui_nuoc_thai__xu_ly_mui_hoi_phong_voi_che_pham_Wivero__YouTube.flv Phim_video_clip_H2S_chay_trong_oxi__H2S___O2_KK__Xem_phim__Phim_bo__Phim_le__Video_vui__Download_phim__Clip_nhac__Phim_hoat_hinh__Phim_hanh_dong__Gai_xinh__v_Viet_Giai_Tri.flv Hoa_hoc_10_SO2___H2S_trong_nuoc__YouTube.flv Hoa_hoc_10_Dieu_che_khi_O2_tu_H2O2__YouTube.flv H2S_tac_dung_voi_oxiflv__YouTube.flv H2S_pu_voi_SO2__YouTube.flv H2S___O2__YouTube.flv Dieu_che_SO2__YouTube.flv

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Bài viết > Sáng kiến kinh nghiệm >

    Sáng kiến kinh nghiệm Văn

     

                   SỞ GD ĐT QUẢNG NGÃI

         TRƯỜNG THPT TRẦN QUANG DIỆU

                          TỔ NGỮ VĂN

     

    ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

     

     

     

                

     

     

     Lĩnh vực/Môn : Ngữ Văn

                                Người thực hiện : Hồ Văn Thành

                                Giáo viên môn : Ngữ Văn.

     

     

     

     

     

    Năm học 2011 – 2012

     

     

                                                                   

     

     

     

     

    MỤC LỤC

     

     

     

    I. DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT.............................3

    1. II.   ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................4

     III. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ...............................................6

    1. 1.     Cơ sở lý luận của vấn đề...............................................6
    2. 2.     Thực trạng của vấn đề..................................................8
    3. 3.     Các biện pháp tiến hành giải quyết vấn đề................10
    4. 4.     Hiệu quả của đề tài sáng kiến kinh nghiệm...............20

    IV.KẾT LUẬN .................................................................22

    V.TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................24

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

                                                                   

     

     

     

     

     

    DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

     

     

     

                 1. Giáo dục đạo đức : GDĐĐ

                 2.Kiểu bài nghị luận xã hội :  NLXH

                 3. Trung học phổ thông : THPT

                 4. Hạnh kiểm : HK

                 5.Tỉ lệ :TL

                 6.Trung bình : TB

                 7.Tổng số : TS

                 8.Sách giáo khoa : SGK

     9. Sách giáo viên : SGV.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Đề tài : “ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI VỚI VIỆC GIÁO DỤC        ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG ”

    A. ĐẶT VẤN ĐỀ :

    Môn ngữ văn ( bao gồm ba phần : Văn học, Tiếng Việt, Làm văn) là  một môn học  nền tảng về  kiến thức và  công cụ  giao tiếp , có vị trí quan  trọng  trong  các môn  học, góp  phần tạo nên trình độ văn hóa cơ bản cho học sinh. Cùng với  việc rèn kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng sử dụng tiếng Việt, phần  Làm văn được chú trọng  vì đây  là  phần  thể hiện rõ nhất kĩ năng  thực hành, sự  nhận  thức, sức sáng tạo của học sinh về nhiều vấn đề trong cuộc sống.

    Làm  văn  gồm  hai  dạng : nghị  luận  văn  học  và nghị  luận xã hội. Trong chương trình giảng  dạy mới, nghị  luận xã hội chiếm tỉ lệ cao và được  quan tâm  hơn nhiều so với  trước đây, nhằm mục đích tăng cường sự gắn bó của học sinh với đời sống xã hội, rèn luyện cho học sinh năng lực chủ động đề xuất,  phát biểu những suy nghĩ của chính mình trước nhiều vấn đề trong  cuộc sống cũng như nhận biết những vấn đề đúng,  sai của  bản  thân  để  rèn luyện và hoàn thiện đạo đức, nhân cách. Vì vậy  nếu  ta  khai tác  tốt  những  tiết dạy làm văn nghị luận xã hội sẽ góp phần thiết thực vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh.

    Như  chúng  ta  đã  biết, đạo  đức  là  phẩm  chất quan trọng nhất của nhân cách,  là nền  tảng  để  xây dựng  thế  giới tâm hồn của mỗi con người.  Nói về đạo đức,  nhân  cách  của  con người, Bác Hồ  đã dạy:     “ Đạo đức là cái gốc của con người ”,  “ Người có  tài mà không có đức là người vô dụng ”.  Vì vậy ở  bất cứ quốc gia nào, thời đại nào, việc giáo dục  đạo đức cho thế hệ trẻ, cho học sinh cũng là trung tâm chú ý của tất cả mọi người và toàn xã hội.

    Giáo dục đạo đức(GDĐĐ) nhằm  hướng tới mục đích đào tạo những con  người  không chỉ  có tài  mà còn  có đức, để  các  em  trở  thành người có ích cho xã hội. Vậy  phải  làm  thế nào  để GDĐĐ  đạt hiệu quả ?  Qua  thực  tế  chúng  ta  có thể  thấy  rằng  hiện  nay trong nhà trường việc GDĐĐ  cho học  sinh  rất  được quan tâm và luôn coi đó là một trong  những mục tiêu hàng đầu trong sự nghiệp giáo dục.Thế nhưng  có một  thực tế  đau lòng  là hiện nay tình trạng xuống cấp về  mặt đạo đức,  niềm tin,  lí tưởng của một bộ phận học sinh trong nhà trường là  rất lớn và  đáng  báo động. Việc  học  sinh  lừa  dối ông bà cha mẹ, thầy  cô  giáo, vô lễ với giáo viên trên lớp, bỏ học , la cà quán xá,  gây gỗ đánh nhau, kết bè,  kết nhóm quậy phá,  sa vào các tệ nạn xã hội :  hút thuốc,  uống  rượu,  đánh  bài, ghi  số đề, thậm chí có cả học  sinh  phạm  tội  không  phải  là hiếm  gặp  ở  học sinh trong nhà trường.  Nguyên nhân của tình trạng này thì có nhiều, nhưng điều dễ nhận  thấy  nhất  là ở tuổi đang tập làm người lớn, nhận thức của các em  chưa  đầy đủ  và thường  chịu  ảnh hưởng rất lớn của môi trường xung quanh. Trong khi đó  xã hội ta  đang  trên con đường phát triển đổi mới  với sự tác động tiêu cực của sự hội nhập, của nền kinh tế thị trường  dẫn  đến  có  nhiều  hiện  tượng  suy  thoái về đạo đức đã tác động xấu tới việc tu dưỡng và rèn luyện đạo đức ở học sinh.

    Vì vậy  việc  tăng cường GDĐĐ  cho  học sinh hiện nay là vấn đề vô cùng quan trọng,  là trách nhiệm nặng nề của cả gia đình, nhà trường và toàn xã hội. Là  một  giáo viên dạy  văn  đang  trực tiếp giảng dạy trong  nhà  trường  và đang làm công tác chủ nhiệm lớp có nhiều học sinh cá  biệt, tôi  tự nhận  thấy việc GDĐĐ cho  các em  không chỉ là việc  làm  cần thiết  mà  còn là trách nhiệm nặng nề và cấp bách hiện nay. Do vậy  đứng  trước  lợi thế của môn học và trước thực trạng đó tôi đã có nhiều boăn khoăn đi tìm hứơng giải quyết để góp phần giúp các  em  nhận biết  những  mặt tiêu cực  để hoàn thiện đạo đức, nhân cách  con người và một trong những biện pháp tốt nhất theo tôi đó là qua các tiết dạy nghị luận xã hội vận dụng những đề văn gần gũi, sát với những biểu hiện tiêu  cực của  các em để GDĐĐ cho các em. Đó cũng chính là lí do tôi chọn viết đề tài : “ Nghị luận xã hội với việc giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường ”.

           Tôi hi vọng những nghiên cứu bước đầu của mình sẽ góp một    phần nhỏ  trong việc  tăng cườngGDĐĐ đạo đức cho học sinh hiện      nay bởi thực  tế  qua kiểm nghiệm của  bản thân áp dụng cho các lớp 12 đang dạy, tuy chưa có được kết quả  như ý muốn nhưng bước đầu cũng có  được tác dụng  nhất  định trong việc giáo dục rèn luyện đạo đức học sinh .

     

     

     

     

     

     

              B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :

    I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ  :

    1. Nghị luận xã hội và vị trí của nghị luận xã hội .

    a. Lý thuyết về nghị luận xã hội 

    Các SGK làm văn và hướng dẫn giảng dạy đều khẳng định: “ Nghị  luận xã hội là dạng văn mà người viết đi vào bàn bạc các vấn đề thuộc lĩnh vực chính trị xã hội có liên quan tới hoạt động của con người ’’.

    Mục đích của nghị luận xã hội là đưa những vấn đề trên ra để bàn bạc , làm sáng tỏ đúng, sai,…Nhằm tuyên truyền giáo dục góp phần làm cho đời sống tinh thần của con người thêm phong phú tạo cho mỗi người có ý thức chăm sóc cuộc sống của bản thân mình và xây dựng mối quan hệ trong xã hội , trong cộng đồng ngày một bền vững hơn, văn minh hơn, tốt đẹp hơn.

    Phạm vi của NLXH rất rộng , được chia thành các chủ điểm lớn :

    -         Nghị luận về vấn đề đạo đức – nhân sinh

    -         Nghị luận về vấn đề chính trị

    -         Nghị luận về vấn đề tư tưởng văn hoá  

    -         Nghị luận về vấn đề kinh tế

    -         Nghị luận về vấn đề lịch sử

    -         Nghị luận về vấn đề địa lý – môi trường

    b. Vị trí của NLXH trong chương trình dạy học môn ngữ văn hiện nay :

    Ở bậc THCS , việc học văn NLXH đã được quan tâm, từ năm 2000, khi chương trình văn THPT có sự chỉnh lý hợp nhất thì vụ THPT đã đưa ra yêu cầu về việc giảng dạy và ra đề NLXH cho cả ba khối 10, 11, 12 .

    Cuối tháng 10/2003 trong chuyên đề về việc bồi dưỡng học sinh giỏi văn ông Hà Bình Trị cũng đề cập đến việc dạy và ra đề văn NLXH thường xuyên hơn ở các tiết dạy và kiểm tra đánh giá ở cả ba khối.

    Như vậy vấn đề dạy học NLXH trong nhà trường THPT cũng đã được đề cập đến. Nhưng ở đây tôi xin nhấn mạnh hơn đến hiệu quả của việc dạy học và ra đề văn NLXH để có thể có những tác động nhất định đối với việc rèn luỵện tu dưỡng đạo đức của học sinh trong nhà trường.

    2. Vai trò, tác dụng của văn nghị luận xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh :

    a. Đối với người được giáo dục :

    Việc tiếp xúc với văn NLXH liên quan đến phạm trù đạo đức sẽ giúp học sinh phải suy nghĩ, soi lại mình và nói lên tâm tư của mình trước mỗi vấn đề cụ thể . Rồi tự đó điều chỉnh hành vi, cách cư xử sao cho đúng đắn phù hợp. SGK làm văn 10 đã khẳng định : “ Trước những đề bài NLXH học sinh phải suy nghĩ một cách nghiêm chỉnh các vấn đề đạo lý, nhân cách con người . từ đó phát triển ý thức tự trau dồi, xây dựng cho mình một nhân cách tốt đẹp’’.

    b. Đối với người giáo dục :

    Vấn đề trên sẽ giúp giáo viên có thể nắm được tâm tư, tình cảm của học sinh . Từ đó có thể rút ra những nhận xét về con người các em. Và cũng từ đó có căn cứ và biện pháp để giáo dục đạo đức các em. Bởi như người ta nói : “ Văn là người ’’. Bài văn cho chúng ta những thông tin đầy đủ để từ đó ta hiểu thêm về con người . Con người như thế nào thì có ý nghĩ như thế ấy . Thường ngày các em có những suy nghĩ gì , quan tâm tới cuộc sống ra saovà cách ứng xử như thế nào tất cả những cái đó vẫn có sẵn trong các em, gặp cơ hội là bộc lộ ra bên ngoài.

    Ngày xưa các thầy đồ cũng thường mượn đề văn , câu đối để nhận định học trò của mình. Đã có nhiều giai thoại hấp dẫn được lưu truyền. Chẳng hạn câu chuyện thầy giáo Đàm Huy Thận một hôm nhân trời mưa to, học xong mà học trò không thể ra về được , bèn đọc một vế đối bảo học trò đối lại : “ Vũ vô kiềm toả năng lưu khách ’’ .

    ( Nghĩa là mưa không có then khoá gì mà có thể đóng cửa giữ khách lại không cho về )

    Có ba học trò đối lại như sau :

    Người thứ nhất : “ Sắc bất ba đào dị nịch nhân ’’.

    (Sắc đẹp không có sóng gió gì mà làm đắm được người )

    Người thứ hai “ Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân ’’.

    ( Trăng có cung mà không ai bắn)

    Người thứ ba : “ Phẩn bất uy quyền dị sử nhân ’’.

    (Cục phân kia chẳng có uy quyền gì mà đuổi được người)

    Thầy giáo đã nhận thấy ở học trò : Người thứ nhất say đắm trong tình trường, ngưòi thứ hai thì đôn hậu không muốn gây chiến tranh, người thứ ba – sao anh ta không nghĩ đến cái gì khác mà lại nghĩ ngay đến bãi phân ?

    Từ suy nghĩ ấy thầy giáo đã đoán được tư cách và tương lai của mỗi học trò.

    Nh­ vËy việc dạy và ra ®Ò v¨n nghÞ luËn x· hội ®èi víi häc sinh bËc THPT sÏ cã t¸c dông nhÊt ®Þnh ®èi víi qóa tr×nh tù tu d­ìng, rÌn luyÖn ®¹o ®øc cña c¸c em vµ ®èi víi qu¸ tr×nh gi¸o dôc d¹y, dç, uèn n¾n ®¹o ®øc häc sinh cña gi¸o viªn. NÕu hai qu¸ tr×nh nµy kÕt hîp víi nhau mét c¸ch hµi hßa th× hiÖu qu¶ thu ®­îc sÏ rÊt kh¶ quan.

     

    II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ :

    1. 1.     Chương trình làm văn NLXH khối lớp 12 được phân phối theo khung chương trình năm học :
    2. a.     Kiểu bài NLXH về một tư tưởng, đạo lí .

    Bao gồm 4 tiết( Theo phân phối chương trình ) và một tiết tự chọn :

    -         Tiết thứ 3,4 ( Theo phân phối chương trình )

    -         Tiết thứ 7 ( Bài kiểm tra theo phân phối chương trình )

    -         Tiết thứ 16 ( Trả bài kiểm tra theo phân phối chương trình )

    -         Tiết tự chọn về thể loại ( Có thể thay đổi theo yêu cầu )

    1. b.     Kiểu bài NLXH về một hiện tượng đời sống .

    Bao gồm 2 tiết( Theo phân phối chương trình ) và một tiết tự chọn :

    -         Tiết thứ 14 ( Theo phân phối chương trình )

    -         Một bài viết ở nhà theo qui định.

    -         Tiết thứ 25 ( Trả bài viết làm ở nhà theo phân phối chương trình)

    -         Một tiết tự chọn về thể loại ( Có thể thay đổi theo yêu cầu ).

    1. 2.     Thái độ học tập và nhận thức về làm văn NLXH của học sinh hiện nay.

    Nghị  luận xã hội đã được học ở cấp trung học cơ sở, nhưng khi phải trình bày những suy nghĩ, ý kiến cá nhân về các vấn đề tư tưởng đạo lý, hiện tượng xã hội…thì đa số học sinh rất lúng túng và “sợ” kiểu bài này v× nhiÒu nguyªn nh©n:

    - Thø nhÊt: lµ do c¸c em cßn thiÕu kiÕn thøc hiÓu biÕt x· héi, cho dù ngày nay, với các phương tiện hiện đại thì việc truy cập thông tin là điều đơn giản, nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại học sinh rất nghèo vốn kiến thức xã hội, văn hóa.

    - Thứ hai: là do các em còn ngại thể hiện tư tưởng tình cảm của mình (Trong khi đó văn nghị luận xã hội  phải trực tiếp bộc lộ điều này).

    - Thứ ba:  còn là do không có tài liệu hoặc là ít tài liệu để tham khảo thậm chí là để sao chép.

    Chính vì vậy chúng ta phải khéo léo trong việc dạy và chọn những đề bài gần gủi  với tâm lí  học sinh để các em tiếp nhận một cách tự giác và gây hứng thú trong tiết học tránh nhàm chán và thụ động qua đó mới hướng đến GDĐĐ cho các em .

    1. 3.     Những biểu hiện tiêu cực trong quá trình học tập và rèn luyện của học sinh :

    Qua thực tế trực tiếp giảng dạy và tiếp xúc với các em hàng ngày, chúng ta dễ dàng nhận thấy ở hầu hết các lớp đều có một số bộ phận học sinh tồn tại những biểu hiện tiêu cực như : học sinh đến trường gặp thầy cô giáo không chào hỏi, nói tục, chửi thề, vào lớp không lắng nghe giảng bài, nói chuyện trong giờ học, cá biệt còn có một số em bỏ tiết để tham gia các trò chơi như : bida, game, internet, đánh bài bạc... một số khác nói dối ông bà, cha mẹ để xin tiền đi chơi, đua đòi, ăn diện...Đáng ngại hơn có một số bộ phận häc sinh còn hiểu rất mơ hồ về lĩnh vực chính trị- xã hội. Chẳng hạn như về chiến tranh, về lịch sử dân tộc. Có em còn cho rằng:  "Đó là bịa thêm chứ không hoàn toàn là sự thật". Về nghề nghiệp các em không biết cách định hướng. Điều đáng buồn là có những học sinh sống, học tập mà không hề biết đến mục đích sống, lý tưởng sống là gì?  Khi được hỏi mục đích đi học của em là gì thì nhiều em trả lời một cách rất tự nhiên rằng:"Đi học để lấy cái bằng lớp 12 ";  "Đi học để  sau này khỏi phải làm ruộng".  Một thực tế nữa là có những học sinh không may vấp ngã thì lâm vào tình trạng bi quan chán nản, không tự mình đứng dậy được nên đành tặc lưỡi: "Mặc kệđến đâu thì đến"...

    Vậy làm sao để tác động đến các em giúp các em có ý thức học tập và rèn luyện đạo đức cho tốt, từ những boăn khoăn trên tôi đã tiến hành rà soát phân loại đối tượng  học sinh và quyết định vận dụng những đề văn NLXH sát thực và gần gủi với đối tượng  học sinh trong từng tiết dạy có trong chương trình để GDĐĐ cho các em .

     

    III. CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ : 

    1.Khách thể nghiên cứu :

    a. Học sinh : Đề tài tập trung nghiên cứu trên hai lớp đang dạy 12B1 và 12B5 trường THPT Trần Quang Diệu. Nhìn chung ở hai lớp này số học sinh có những biểu hiện tiêu cực và xếp loại đạo đức trung bình, yếu tương đối nhiều.

    b. Giáo viên : Hồ Văn Thành được phân công trực tiếp giảng dạy môn ngữ văn ở hai lớp trên.

     

    2.Các biện pháp tiến hành nghiên cứu :

    a. Tiến hành rà soát và phân loại về mặt xếp loại đạo đức học sinh ở hai lớp 12 đang dạy đầu năm học : ( theo kết quả năm học trước )

     

     

    Lớp

    Sỉ số

     

    HK

    TỐT

    TL

    HK

    KHÁ

    TL

    HK

    TB

    TL

    HK

    YẾU

    TL

    12B1

    44

    15

    34℅

    20

    45℅

    7

    16℅

    2

    5℅

    12B5

    45

    16

    35℅

    19

    42℅

    8

    17℅

    2

    6℅

    TS

    89

    31

    34.5℅

    39

    43,5℅

    15

    16,5℅

    4

    4,5℅

     

    Qua kết quả trên cho thấy tỉ lệ học sinh bị xếp loại đạo đức trung bình và yếu còn quá nhiều chiếm tới 21℅, đây là con số chiếm tỉ lệ khá cao so với mặt bằng chung của toàn trường. Đồng thời khi trực tiếp tiếp xúc với từng thành viên trong lớp thì tôi thấy ở mỗi lớp điều có tồn tại một số học sinh có những biểu hiện tiêu cực rất đa dạng, phức tạp và nhìn chung đều tập trung vào một số biểu hiện tiêu cực như : Vắng học, bỏ giờ, vô lễ với giáo viên, gây gỗ đánh nhau, kết bè, kết nhóm quậy phá, sa vào các tệ nạn xã hội : hút thuốc, uống rượu, đánh bài, ghi số đề... và con số 21℅ xếp loại đạo đức trung bình, yếu đều rơi vào số học sinh có những biểu hiện tiêu cực này.   

    b.Phân loại đối tượng học sinh :

     Căn cứ vào tình hình chung của lớp và những biểu hiện tiêu cực của học sinh tôi tiến hành phân loại đối tượng học sinh. Có thể thấy rằng trong một lớp có nhiều đối tương học sinh chúng ta không thể quan tâm hết được nhưng nhìn chung ta có thể phân loại học sinh trong một lớp làm hai nhóm đối tượng để có hướng giáo dục phù hợp:

    b1. Nhóm 1 : Là cả một tập thể lớp nói chung bao gồm những em ngoan, hiền, lễ phép, đạo đức tốt, có ý thức học tập và rèn luyện.Ở nhóm này việc dạy học và rèn luyện đạo đức cho các em dễ thực hiện.

    b2. Nhóm 2 :  Đối với những học sinh các biệt có những biểu hiện tiêu cực, ở nhóm đối tượng này đang rất cần có sự quan tâm và những biện pháp giáo dục để các em nhận thức, thấy được những việc làm sai trái mà thay đổi để rèn luyện đạo đức, nhân cách trở thành người có ích cho xã hội.

    Từ việc phân loại học sinh thành hai nhóm đối tượng trên, tôi tiến hành trong từng tiết dạy làm văn NLXH vận dụng những đề văn sát với đối tượng để có hướng giáo dục đạo đức tốt cho các em, trong đó tôi thật sự chú trọng đến nhóm 2 để giáo dục . 

    c. Áp dụng đề bài và hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề trong tiết dạy

    c1.Đối với các tiết dạy về kiểu bài nghị lụân về một tư tưởng, đạo lí, Tôi tiến hành áp dụng bốn đề bài sau cho bốn tiết dạy tại lớp (Có một tiết làm bài viết tại lớp) và tiết trả bài cho học sinh :

    ĐỀ 1: 

    Hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm sau:

    “Hỏi một câu chỉ dốt trong một lát. Không hỏi sẽ dốt suốt cuộc đời”.

    (Danh ngôn phương Tây – Dẫn theo Từ điển danh ngôn của Nguyễn Nhật Hoài và Vũ Tiến Quỳnh) 

    *Hướng dẫn tìm hiểu đề và dàn ý :

    1) Giải thích:

    -Nội dung câu danh ngôn đề cập đến vấn đề nhận thức, hỏi hay không hỏi khi bản thân mỗi người gặp phải những vấn đề cần giải đáp.

    -Có  thể khi ta hỏi, ta có khả năng bị cho là chưa đủ trình độ để giải đáp sự việc, thậm chí bị xem là dốt, nhưng đó chỉ là cái dốt trong thoáng chốc vì ngay sau đó ta đã có được câu giải đáp đầy đủ về vấn đề.

    -Nếu sĩ diện không hỏi, sự thiếu thông suốt về vấn đề sẽ đeo đẳng ta, có khi đêm đến cho ta những hậu quả xấu và theo ta suốt cả một đời.

    2) Bàn luận về quan niệm:

    -Hỏi là một nhu cầu tất yếu của mỗi người khi gặp phải vấn đề chưa thật rõ hoặc vượt qúa nhận thức của mình.

    -Mục  đích của việc hỏi là để được biết, được giỏi hơn. Việc hỏi để được hiểu biết và nâng cao nhận thức cần được xem là một việc bình thường và cần thiết vì những điều ta biết là rất có giới hạn.

    -Quan niệm cho rằng khi mình hỏi ai đó một vấn đề gì sẽ  bị người khác cho là trình độ của mình còn thấp kém là một quan niệm không đúng cả về mặt khoa học lẫn nhận thức.

    3) Bài học nhận thức và hành động giáo dục đạo đức :

    -Câu danh ngôn giúp mỗi người nhận thức thêm về vấn  đề cần trao đổi để nâng cao kiến thức.Thực tế nhiều em do e ngại không dám mạnh dạn hỏi, trình bày ý kiến dẫn đến thụ động, có những vấn đề rất đơn giản như một phép tính dễ, một cách phân loại câu đơn giản nhưng không giải quyết được mà không hỏi dẫn đến không biết rồi lười học, trốn giờ, vi phạm nội qui...

    -Việc học trong và ngoài nhà trường cần được bổ sung liên tục bằng việc mọi người trao đổi với nhau những điều mình chưa rõ để tất cả cùng rõ. Qua đó giúp các em mạnh dạng hơn trong việc trao đổi xây dựng bài, tránh thụ động, sống thu mình, nhút nhác trong học tập và trong các hoạt động khác.

    ĐỀ 2: 

    Hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh, chị  về quan niệm của Domat:

    “Có ba điều để tạo nên hạnh phúc: đó là một thân thể khỏe mạnh, một tinh thần minh mẫn và một trái tim trong sạch.” 

    *Hướng dẫn tìm hiểu đề và dàn ý :

    1) Giải thích:

    -Ba yếu tố cần có để tạo nên cuộc sống hạnh phúc cho một con người: sức khỏe (ăn ngon, ngủ yên, hưởng thụ, …) ; tinh thần khỏe khoắn, sáng suốt giúp con người hoàn thành tốt công việc, góp phần làm nên sự  thành công ; trái tim _ tâm hồn trong sáng, trong sạch thì thể xác và tinh thần mới yên ổn, an lạc.

    2) Bàn luận về quan niệm:

    -Quan niệm của Domat là đúng đắn ; khó lòng mà hạnh phúc nếu cơ thể ốm đau, tinh thần thiếu sáng suốt. Làm sao ta có  được một thân thể khỏe mạnh, một tinh thần minh mẫn và một trái tim trong sạch khi ta sống thiếu ý thức, sống buông thả, sống đua đòi, sa vào các tệ nạn xã hội...

    - Những quan niệm cho rằng có đầy đủ vật chất sẽ có hạnh phúc hoặc chỉ cần có thân thể khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn là đã có hạnh phúc… là những quan niệm chưa thỏa đáng. Tất nhiên, vẫn có thể nêu thêm một vài yếu tố có khả năng dẫn con người đến hạnh phúc nhưng cần hiểu rằng quan niệm được dẫn trên là một quan niệm hợp lý và tích cực.

    3) Bài học nhận thức và hành động giáo dục đạo đức :

    Phải biết giữ gìn sự lành mạnh cho cả thể  xác, tinh thần, tâm hồn thì mới có được hạnh phúc, có được tương lai tươi sáng. 

    ĐỀ 3: 

    Nhà  văn Nam Cao có lần đã gửi gắm suy nghĩ của mình về hạnh phúc trong truyện ngắn của ông như sau:

    “Hạnh phúc là một cái chăn quá hẹp. Người này co thì người kia bị hở”

    Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về quan điểm trên của nhà văn Nam Cao. 

    *Hướng dẫn tìm hiểu đề và dàn ý :

    1) Giải thích quan niệm:

    -Hạnh phúc có thể xem như là một cái chăn có  khả năng mang lại sự ấm áp, sự yên ấm cho con người (cách nói ví von).

    -Hạnh phúc ở đời thường có giới hạn (quá  hẹp).

    -Khó  có hạnh phúc cùng một lúc cho tất cả mọi người, vì nếu người này giành thật nhiều hạnh phúc về  phần mình (người này co) thì sẽ có người thiếu hụt hạnh phúc (người kia bị hở)

    2) Bàn luận về quan niệm

    -Quan niệm trên của Nam Cao là một quan niệm tuy chua chát nhưng không phải là không sát với thực tế đời sống.

    -Có  hai loại người giành hạnh phúc về phần mình (kéo tấm chăn hạnh phúc): loại người do vô tình, vô tâm và loại người ích kỉ, tham lam.

    -Trong thực tế học tập và trong thực tế đời sống, không nên giành tất cả những thuận lợi về  phía mình, đẩy bạn bè và người xung quanh vào cảnh thiếu hụt, bất hạnh.

    -Vẫn có những người sẵn sàng nhường tấm chăn hạnh phúc cho những người khốn khó và lạnh lẽo hơn mình. Đó là những người vị tha, nhân hậu.

    3) Bài học nhận thức và hành động giáo dục đạo đức :

    -Quan niệm của Nam Cao góp phần nhắc nhở những ai chỉ nghĩ  đến hạnh phúc của mình mà không quan tâm đến hạnh phúc của người khác, phê phán lối sống thờ ơ, ghẻ lạnh...

    -Nên sống theo cách biết quan tâm đến hạnh phúc của người khác và biết san sẻ với người khác những hạnh phúc của mình. 

    ĐỀ 4: 

    Nêu suy nghĩ cùa anh (chị) về câu ngạn ngữ Hi Lạp:

    “Học vấn có những chùm rễ đắng cay, nhưng hoa quả lại ngọt ngào”. 

    *Hướng dẫn tìm hiểu đề và dàn ý :

    1) Giải thích câu ngạn ngữ 

    Học vấn là sự  hiểu biết do học tập mà có; là quá trình con người thu nhận kiến thức từ nhà trường, thầy cô, sách vở, bạn bè …

    - Chùm rễ đắng cay: hiểu theo nghĩa rộng: trên con đường học tập, chúng ta phải đầu tư công sức, thời gian, tiền bạc, phải vượt qua rất nhiều khó khăn, gian nan, mà không phải lúc nào kết quả cũng tốt đẹp.

    - Hoa quả  ngọt ngào: những thành quả tốt đẹp sẽ đạt được sau một quá trình dài nỗ lực học tập. Có học vấn con người mới có điều kiện làm chủ thiên nhiên, xã hội và bản thân mình.

    2) Luận bàn về  kinh nghiệm học tập và  giá trị của học vấn 

    -Học vấn là con đường tiếp thu kiến thức của nhân loại, để học tập có hiệu quả chúng ta phải đầu tư công sức, tiền bạc, thời gian… 

    -Trong đó, sự  nỗ lực của bản thân là điều quan trọng. Sự nỗ lực đó thể hiện nghị lực và quyết tâm cao của người học trong việc vượt lên hoàn cảnh, thử thách.

    - Chúng ta sẽ gặt hái những thành công tốt đẹp – không chỉ  cho bản thân ta mà còn góp phần làm cho cuộc sống tươi đẹp hơn

    - Tuy nhiên, hoa quả  của học vấn không chỉ là sự giàu sang, địa vị xã hội mà là sự hiểu biết cái Chân, Thiện, Mĩ để hoàn thiện nhân cách, đạo đức con người

    (Làm sáng tỏ tư tưởng trên bằng việc phân tích một số ví dụ lấy từ các tấm gương học tập, phấn đấu và rèn luyện gian khổ để có được những vinh quang cao quý…) 

    3) Bài học nhận thức và hành động giáo dục đạo đức :

              - Nhận thức và hành động của bản thân trong học tập và cuộc sống. 

    - Kì thi tốt nghiệp THPT sắp đến sẽ là những chùm rễ đắng cay hay hoa quả lại ngọt ngào là điều các em phải suy nghĩ và trả lời ?  

    c2.Đối với các tiết dạy về kiểu bài nghị lụân về một hiện tượng đời sống:

    Tôi tiến hành áp dụng ba đề bài sau cho hai tiết dạy tại lớp (Có một tiết tự chọn), một bài viết làm ở nhà và một tiết trả bài cho học sinh :  

    ĐỀ 1:

    Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhoáng. 

    *Hướng dẫn tìm hiểu đề và dàn ý :

    1) Giải thích ý kiến:

    -Đạo đức giả là cách ứng xử giả tạo, dùng vỏ đạo đức bên ngoài nhằm che đậy bản chất vô đạo đức bên trong.

    -Về  thực chất, đạo đức giả là lối sống giả  dối, vì thế nó nguy hại như một căn bệnh chết người nhưng khó nhận biết.

    2) Luận bàn về sự nguy hại của căn bệnh đạo đức giả:

    -Những biểu hiện của bệnh đạo đức giả

      + Dùng những lời nói hay ho, đẹp đẽ bên ngoài để che đậy ý nghĩ đen tối và tình cảm thấp hèn bên trong.

      + Dùng những hành động có v ẻ tích cực để ngụy trang cho những động cơ xấu xa, đê tiện.

    -Tác hại của bệnh đạo đức giả:

      + Đối với mỗi người: Vì sống giả dối nên tự đánh mất dần nhân cách, đánh mất niềm tin, sự quý trọng của mỗi người dành cho mình.

      + Đối với xã hội: Làm lẫn lộn những giá trị  đạo đức, khiến cho thật giả bất phân; làm suy đồi phong hóa xã hội và gây nhiều hậu quả khôn lường.

    3) Bài học nhận thức và hành động

    - Thấy rõ sự cần thiết phải tích cực trao dồi nhân cách, bồi đắp những giá trị đạo đức, sống chân thành, trung thực.

    -Kiên quyết lên án, vạch trần và ngăn chặn thói  đạo đức giả. 

    ĐỀ 2:

    Như  một thứ a-xit vô hình, thói vô  trách nhiệm ở mỗi cá  nhân có thể ăn mòn cả  một xã hội.

    Từ  ý kiến trên, anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của mình về tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con người trong cuộc sống hiện nay. 

    *Hướng dẫn tìm hiểu đề và dàn ý :

    1) Giải thích ý kiến:

    - Về  nội dung, ý kiến này đề cập đến mối nguy hại ngấm ngầm rất cần cảnh giác của thói vô trách nhiệm; nó xuất phát từ mỗi cá nhân nhưng lại gây hậu quả to lớn đối với toàn xã hội.

    -Về  thực chất, ý kiến này là sự cảnh báo về  một vấn nạn đạo đức mang tính thời sự : thói vô  trách nhiệm và hậu quả khôn lường của nó.

    2) Luận bàn về tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con người:

    -Tình thần trách nhiệm:

      + Tinh thần trách nhiệm là ý thức và nỗ  lực nhằm hoàn thành tốt những phận sự của mình. Nó được biểu hiện cụ thể, sống động trong ba mối quan hệ cơ bản : giữa cá nhân với gia đình, cá nhân với toàn xã hội và các nhân với bản thân mình.

      + Tinh thần trách nhiệm là một phẩm chất cao đẹp, một thước đo giá trị con người; là cơ sở để xây dựng hạnh phúc của mỗi gia đình; đồng thời tinh thần trách nhiệm cũng góp phần quan trọng tạo nên quan hệ xã hội tốt đẹp, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

    -Thói vô trách nhiệm

      + Thói vô trách nhiệm là một sự biểu hiện của lối sống phi đạo đức, thể hiện ý  thức và hành động không làm tròn phận sự của mình đối với xã hội, gia đình và bản thân, gây nên những hậu quả tiêu cực. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, lối sống ấy đang khá phổ biến, trở thành một vấn nạn trong xã hội.

      + Tác hại của thói vô trách nhiệm: làm băng hoại  đạo đức của con người; gây tổn hại hạnh phúc gia đình; gây tổn thất cho cộng đồng, kìm hãm sự phát triển và tiến bộ xã hội.

    3) Bài học nhận thức và hành động:

    -Bản thân cần nhận thức sâu sắc tinh thần trách nhiệm là  thước đo phẩm giá con người; không ngừng nâng cao ý thức trách nhiệm của mình trong mọi lĩnh vực  đời sống.

    -Cần  ý thức rõ tác hại và có thái độ kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện của thói vô trách nhiệm trong xã hội .

    ĐỀ 3:

    Nói không với các tệ nạn xã hội.

    Từ lời kêu gọi  đó, anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn, trình bày suy  nghĩ của mình. 

    *Hướng dẫn tìm hiểu đề và dàn ý :

    1) Nêu hiện tượng:

    - Trong cuộc sống, bên cạnh nhiều nề nếp, thói quen tốt còn không ít thói quen xấu và tệ nạn có hại cho con người, xã hội.

    - Những thói xấu có sức quyến rũ ghê gớm như cờ bạc, thuốc lá hoặc ma túy, sách xấu, băng đĩa có nội dung độc hại...

    - Nếu không tự chủ được mình, dần dần con người sẽ bị nó ràng buộc, chi phối, dần dần biến chất, tha hóa.

    - Chúng ta hãy kiên quyết nói "Không!" với các tệ nạn xã hội.

    2) Luận bàn về  sự nguy hại của các tệ nạn xã hội

    Tại sao phải nói "không!"

    * Cờ bạc, thuốc lá, ma túy... là thói hư tật xấu, những tệ nạn xã hội gây ra tác hại ghê gớm đối với bản thân, gia đình và xã hội về nhiều mặt: tư tưởng, đạo đức, sức khỏe, kinh tế, nòi giống...

    - Tệ nạn xã hội là mối nguy trước mắt và lâu dài của đất nước, dân tộc.

    * Sự ràng buộc, chi phối ghê gớm của thói hư tật xấu:

    - Do bạn bè xâu rủ rê hoặc tò mò thử cho biết. Sau một vài lần không có thì bồn chồn, khó chịu. Dần dần dẫn tới nghiện ngập. Không có thuốc cơ thể sẽ bị hành hạ, mọi suy nghĩ và hành động đều bị cơn nghiện chi phối. Để thỏa mãn, người ta có thể làm mọi thứ, kể cả giết người, trộm cắp...Một khi đã nhiễm thì rất khó từ bỏ, nó sẽ hành hạ và làm cho con người điêu đứng.

    - Thói hư tật xấu là bạn đồng hành của chủ nghĩa cá nhân ích kỉ.

    Tác hại của cờ bạc, ma túy, sách xấu sẽ dẫn đến thoái hóa đạo đức, nhân cách con người.

    * Cờ bạc: cũng là một loại ma túy, ai đã sa chân thì không thể bỏ.

    - Trò đỏ đen, may rủi kích thích máu cay cú, hiếu thắng.

    - Mất nhiều thời gian, sức khoẻ, tiền bạc và sự nghiệp.

    - Ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách và hạnh phúc gia đình, an ninh trật tự xã hội.

    - Hành vi cờ bạc bị luật pháp cấm và tùy theo mức độ vi phạm mà có mức xử lí khác nhau.

    * Thuốc lá:  Là sát thủ giấu mặt với sức khỏe con người.

    - Khói thuốc có thể gây ra nhiều bệnh: ung thư phổi, ung thư vòm họng, tai biến tim mạch...

    - Khói thuốc không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân mà còn ảnh hưởng tới những người xung quanh.

    - Tiêu tốn tiền bạc, làm giảm thu nhập gia đình, ảnh hưởng đến kinh tế quốc dân.

    - Trên thế giới, nhiều nước đã cấm quảng cáo thuốc lá, cấm hút thuốc ở công sở và chỗ đông người.

    * Ma túy:  Thuốc phiện, hêrôin là chất kích thích gây nghiện rất nhanh. Người dùng thuốc sẽ rơi vào trạng thái ảo giác, hoang tưởng. Nghiện ma túy nghĩa là tự mang án tử hình.

    - Khi mắc nghiện, vỏ não bị tổn thương rất lớn, sức khỏe suy kiệt nhanh chóng.

    - Đối với người nghiện ma túy thì tiền bạc bao nhiêu cũng không đủ.

    - Nghiện ma túy cũng đồng nghĩa với việc mất hết danh dự, đạo đức, tình yêu, hạnh phúc, gia đình, sự nghiệp...

    * Văn hóa phẩm độc hại: Khi tiếp xúc với loại này, con người sẽ bị ám ảnh bởi những hành vi không lành mạnh, có những ham muốn phi đạo đức, sa vào lối sống ích kỉ, bản năng, mất hết khả năng phấn đấu, sống không mục đích.

    - Nếu làm theo những điều bậy bạ sẽ dẫn đến sự thay đổi đạo đức, nhân cách, ảnh hưởng đến uy tín bản thân và gia đình, có thể sẽ dẫn tới vi phạm pháp luật.

    3) Bài học nhận thức và hành động giáo dục đạo đức :

    *Chúng ta cần :

    - Tránh xa những thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội

    - Khi đã lỡ mắc thì phải có quyết tâm từ bỏ và làm lại cuộc đời

    - Xây dựng cho mình và tuyên truyền cho mọi người lối sống lành mạnh.

    IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI, SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

    Thực hiện ý tưởng của mình, trên cơ sở bám sát chương trình phân môn Làm văn, từ đầu năm học 2011 - 2012 tôi đã tiến hành áp dụng việc dạy và ra các đề nghị luận như trên ở hai lớp tôi đang dạy. Kết quả là chất lượng GDĐĐ ở hai lớp này đến cuối học kì I vừa qua đã có những thay đổi theo chiều hướng tích cực số học sinh xếp loại đạo đức tốt tăng lên, số học sinh bị xếp loại đạo đức trung bình, yếu giảm xuống đáng kể, cụ thể như sau :

     

    Lớp

    Sỉ số

     

    HK

    TỐT

    TL

    HK

    KHÁ

    TL

    HK

    TB

    TL

    HK

    YẾU

    TL

    12B1

    44

    22

    50%

    18

    43%

    4

    7%

    0

    0%

    12B5

    45

    20

    48,5%

    19

    42,5%

    5

    8%

    1

    1%

    TS

    89

    42

    49%

    37

    43 ℅

    9

    7,5%

    1

    0,5%

    Trên đây là những số liệu đạt được theo thống kê đã có sự thay đổi về mặt xếp loại đạo đức của các em nhưng chưa được toàn diện nên cũng rất cần có sự quan tâm nhiều hơn nữa để đạt kết quả tốt hơn.

    Ngoài việc kết quả xếp loại đạo đức của các em có phần thay đổi, điều tôi tâm đắc hơn cả đó là một số em có những biểu hiện tiêu cực cũng đã thay đổi : Các em đã có ý thức khi chào hỏi thầy cô giáo, hiện tượng bỏ tiết ít đi, tập trung vào việc học nhiều hơn, giờ học sôi nổi hơn, một số em còn bộc lộ rõ tâm sự của mình trong một số bài viết như những lời hối tiếc, tự thấy mình có lỗi,  như lời của em Nguyễn Văn Nguyên có viết:

     

    " Chóng ta ph¶i biÕt ý thøc trong tõng viÖc lµm cña m×nh. Ph¶i ®i ®Õn nÊc thang cña sù thµnh ®¹t, chóng ta ph¶i häc hµnh ch¨m chØ, giái giang th× ®ã chÝnh lµ niÒm h¹nh phóc cña cha mÑ. B©y giê chóng ta phô lßng cha mÑ th× chóng ta qu¸ tµn nhÉn vµ bÊt hiÕu!..."

    Häc sinh TrÇn Thanh Tiªn còng ®· béc lé nh÷ng ®iÒu rÊt thËt  vÒ m×nh :

    " b¶n th©n t«i tr­íc ®©y lu«n lµ mét ®øa con ngoan- Gia ®×nh t«i vèn cã nÒ nÕp. Cha mÑ lu«n vui vÎ lµm viÖc mÆc dï vÊt v¶. . VËy mµ kh«ng ai cã thÓ nãi tr­íc ®­îc ®iÒu g×. N¨m 15 tuæi víi mét chót næi tréi t«i ®· cã quan hÖ réng r·i, b¹n bÌ nhiÒu. Víi x· héi kh«ng cã ®iÒu g× lµ ®¬n gi¶n. B¹n bÌ rñ rª, b¶n th©n kh«ng tù chñ. VËy lµ t«i ®· cã nh÷ng cuéc ®i ch¬i th©u ngµy ®ªm. T«i b©y giê muèn quay l¹i nh­ng thêi gian kh«ng chê ®îi. VËy lµ t«i vÉn lµ t«i, vi mét kÕt qu¶ nh­ ngµy nay: Cha mÑ buån rÇu, lu«n nghi ngê t«i, tÊt c¶ mäi viÖc t«i ®Òu bÞ gi¸m s¸t Cã thÓ nãi t«i ®· tù ch«n vïi m×nh "

    Em Lê văn Hà với dòng tâm sự :

    " Em rất boăn khoăn lo lắng khi đứng trước câu hỏi ? Kì thi tốt nghiệp THPT sắp đến sẽ là những chùm rễ đắng cay hay hoa quả  ngọt ngào ?"

    Tóm lại qua qúa trình giảng dạy và vận dụng những đề văn nghị luận xã hội gần gũi với các em đã đem lại những kết quả khả quan,  góp một

    phần không nhỏ vào việc GDĐĐ cho các em trong nhà trường.

     

    c. KÕt luËn

    ViÖc d¹y- häc vµ ra ®Ò v¨n nghÞ luËn x· héi ®ang lµ mét vÊn ®Ò ®­îc c¸c nhµ nghiªn cøu quan t©m. NÕu nh­ lo¹i v¨n nµy ®­îc quan t©m ®óng møc tõ néi dung bµi häc cho ®Õn c¸ch thøc ra ®Ò, c¸c b­íc chÊm tr¶ bµi th× ch¾c ch¾n sÏ cã nh÷ng t¸c dông nhÊt ®Þnh ®èi víi viÖc gi¸o dôc ®¹o ®øc häc sinh. Nãi ®Õn v¨n NghÞ luËn x· héi tøc lµ nãi ®Õn nhËn thøc, sù tù ý thøc. VËy nªn dạy làm văn NghÞ luËn x· héi víi mong muèn gi¸o dôc ®¹o ®øc cho häc sinh kÕt qu¶ cã thÓ thÊy ngay ®­îc khi c¸c em cßn häc ë tr­êng nh­ng còng cã thÓ ph¶i tr¶i qua thêi gian vµ sù tr¶i nghiÖm cña b¶n th©n c¸c em khi ®· rêi khái ghÕ nhµ tr­êng.

    Th«ng qua d¹ng v¨n nµy thÇy cã thÓ hiÓu ®­îc trß, trß thÓ tù hiÓu m×nh, hiÓu ®­îc  c¶ nh÷ng g× thÇy d¹y vµ nhËn thøc ®­îc m×nh ph¶i lµm g×. §ã lµ sù kÕt hîp cña hai qu¸ tr×nh gi¸o dôc vµ tù gi¸o dôc mµ c¸i ®­îc chÝnh lµ sù thay ®æi, sù lín lªn trong mçi häc sinh.

    Sau mét thêi gian thö nghiÖm, t«i thÊy häc sinh cã nh÷ng chuyÓn biÕn tÝch cùc vÒ t­ c¸ch ®¹o ®øc. V× thÕ mµ viÖc häc tËp cña häc sinh ®· cã nh÷ng tiÕn bé nhÊt ®Þnh. Cã rÊt nhiÒu c¸ch thøc ®ể gi¸o dôc häc sinh.

    VÊn ®Ò mµ t«i ®­a ra chØ lµ mét khÝa c¹nh nhá. Cßn chñ yÕu lµ sù gi¸o dôc cã sù kÕt hîp gi÷a gia ®×nh, nhµ tr­êng vµ toµn x· héi. Bëi nh­ ai ®ã ®· nãi: "Ng­êi thÇy h×nh thµnh nh©n c¸ch häc sinh gÇn gièng nh­ nhµ ®iªu kh¾c t¹o nªn t¸c phÈm cña m×nh nh­ng b»ng mét thø chÊt liÖu sèng vµ ph¶i tr¶i qua mét  qóa tr×nh tham gia cña nhiÒu ng­êi chø kh«ng thÓ s¸ng t¸c mét m×nh".

    Cuối cùng tôi xin đề xuất một ý kiến là nên chú trọng và vận dụng loại văn này nhiều hơn nữa để góp phần GDĐĐ cho các em trong nhà trường.

    Tôi xin kết thúc vấn đề ở đây, rất mong các thầy cô và các anh chị em đồng nghiệp có ý kiến đóng góp cho tôi để hoàn thiện hơn vấn đề này.

    Xin chân thành cảm ơn !

                                          Mộ Đức, ngày......tháng.....năm 2012

                                   Người viết

     

                                    Hồ Văn Thành

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

                                TƯ LIỆU THAM KHẢO 
     

    1. Nghị luận xã hội (Phan Trọng Luận)

    2. Nghị luận xã hội (Bùi Thức Phước)

    3. Sách ngữ văn –Giáo viên 10, 11, 12

    4. Chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi 12 (Trương Văn Quang) 

    5. Sách bài tập ngữ văn –Giáo viên 10, 11, 12

    6. Từ


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Quang Diệu @ 23:53 03/01/2013
    Số lượt xem: 2793
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến